Bất bình đẳng [P2]

Top Incomes in the Long Run of History
(Nhóm thu nhập cao trong dòng chảy lịch sử )

Viết bởi các tác giả : Anthony B Atkinson, Thomas Piketty và Emmanuel Saez

Ok, giờ thì chúng ta đến với bài báo mà ông đã chọn, “Top Incomes in the long-run of History” (tạm dịch là : Nhóm thu nhập cao trong dòng chảy lịch sử) bởi ba nhà kinh tế học châu Âu, Anthony Atkinson, Thomas Piketty và Emmanuel Saez.

Những thiếu sót của cuốn sách của Goldin và Katz là họ không thực sự để ý đến tất cả những gì đang diễn ra trong top 10%. Đây là một phần rất quan trọng của câu chuyện và nó đòi hỏi nhiều chú ý hơn. Một số điều rất thú vị đang diễn ra ở tốp 10% những người có thu nhập cao nhất, đặc biệt là top 1%. Atkinson, Piketty và Saez đã thực sự là những người tiên phong trong vấn đề này, và bài báo của họ là một sự miêu tả chung cho nhiều nghiên cứu của họ. Bài báo chứng tỏ rằng đồng thời với sự gia tăng của chênh lệch lợi ý đầu ra của bậc đại học (college premium) và bất bình đẳng giữa một công nhân trung bình và một công nhân ở tốp trên, có một sự gia tăng rõ rệt hơn trong đóng góp của tốp 10% và tốp 1% vào tổng thu thập quốc dân tại Hoa Kỳ, Canada, Anh và những nơi khác.

Điều quan trọng trong bài báo này, là những sự mô tả hay những giải thích mà họ đưa ra?

Đối với tôi, những sự mô tả xác đáng sẽ cho biết điều gì đang diễn ra. Những người chiếm phố Wall đã mang đến con số 1% để làm cho công luận chú ý nhiều hơn, nhưng chính Atkinson, Piketty và Saez là những người đã mang nó đến và gây ra sự chú ý trong giới học thuật trong thập niên qua. Nhưng cần phải đọc những giải thích của họ, vì tầm quan trọng của một số điều mà họ nói. Ví dụ, họ nhấn mạnh rằng rất khó để giải thích những mô tả này bằng những kiến giải về cung – cầu lao động thông thường mà Goldin và Katz đã làm nổi bật trong cuốn sách của họ. Những kiến giải đó không dùng được ở đây, và chúng ta thực sự phải nghĩ về những thứ như chính sách xã hội; thuế lũy tiến và khía cạnh chính trị của nó.

Vì vậy họ đang chú ý vào 20 quốc gia trong hơn 100 năm qua, và theo bản tóm tắt, khám phá thực nghiệm quan trọng của họ đó là, “hầu hết các quốc gia trải qua một sự sụt giảm lớn trong đóng góp của top thu nhập cao trong đầu thế kỷ 20… Tuy nhiên, hơn 30 năm qua, cái đó lại tăng đáng kể tại các quốc gia nói tiếng anh, và tại Ấn Độ và Trung Quốc, nhưng không phải ở Châu Âu hay Nhật Bản.

Vâng, điều này rất đáng chú ý và xu hướng anh hóa đã tạo ra điều đó. Anh cũng có thể nhìn thấy nó tại nhiều quốc gia khác như Pháp, Ý, Tây Ban Nha, nhưng nó không đáng chú ý như ở các quốc gia nói tiếng anh.
Cũng cần chú ý rằng biểu đồ hình chữ U này cũng có thể áp dụng vào những bức tranh mà làm nổi bật lên sự bất bình đẳng trong nhóm không phải là thu nhập cao nhất, như 90 – 10 hoặc sự chênh lệch lợi ích đầu ra của bậc đại học. Ví dụ, cuốn sách của Goldin và Katz chứng tỏ rằng mức chênh lệch lợi ích đầu ra vào đầu thế kỷ 19 là cao hơn so với những thập niên 40 và 50. Sau đó nó ổn định trong vài thập kỷ, và lại bắt đầu tăng trở lại vào những năm 80.

Khi đề cập đến top những người thu nhập cao nhất, họ đang tập trung vào top 1% hay tốp 10%?
Họ sử dụng dữ liệu từ các hồ sơ về thuế, vì vậy họ có dữ liệu của tốp 10%, tốp 1%, tốp 0,1% và nhiều nữa. Hai cái mà họ chọn để tập trung vào là tốp 10%, đặc biệt là tốp 1%. Đôi khi họ còn đưa ra các số liệu cho tốp 0,1%. Ở đó, họ đã thực sự thấy được sự khác nhau rõ rệt giữa các quốc gia. Nếu anh nhìn vào tốp 0,1%,, nó chiếm khoảng 8% thu nhập quốc dân của Hoa Kỳ, trong khi ở nhiều quốc gia khác, tỷ phần này chỉ khoảng 1% hoặc 2%. Tỷ phần này cũng tăng lên đột ngột tại Hoa Kỳ – vào thập niên 50, nó chỉ khoảng 3%.

Một trong những điều họ chỉ ra là đóng góp của tốp thu nhập cao nhất tại Hoa Kỳ và Anh bắt đầu tăng trong thời Reagan và Thatcher lãnh đạo. Sự tăng lên về bất bình đẳng này không phải chỉ là kết quả của chính sách giảm thuế đối với những người giàu chứ?

Cá nhân tôi không nghĩ rằng đó là lý do chính, mặc dù nó có vai trò. Nó tác động đến thu nhập tư bản. Khi anh nhìn vào tốp 0,1%, nhiều trong số họ là những kiếm tiền từ tư bản (capital earner). Vì vậy nếu anh đánh thuế tư bản nặng, thì sự giầu có dẫn đến có nhiều thư bản ra đi và thu nhập tư bản sẽ phân phối không đều (to check). Có một hiệu ứng rất cơ học từ việc đánh thuế đó. Nhưng có hai tác động khác, khó thấy hơn. Một là việc đánh thuế lũy tiến hơn – đánh thuế cao hơn vào tốp trên – có thể cản trở người ta làm việc chăm chỉ và cố gắng. Điều đó sẽ làm giảm thu nhập của họ và do đó giảm bất bình đẳng. Điều đó là thể không hiệu quả, nhưng đó là một trong những việc xảy ra khi anh có thuế cao. Thứ hau, nó có thể làm thay đổi các mà người ta mặc cả với công ty của họ và khuyến khích những hoạt động đặc lợi để tăng lương hoặc thưởng của họ. Nếu tốp những người thu nhập cao nhất bị đánh thuế ở mức cực cao, giả dụ như, 99% thì không có một CEO nào thèm làm những thứ bán bất hợp pháp để tăng thu nhập của họ, vì rằng việc đó chẳng mang lại lợi ích gì cho họ. Nhưng nếu là 30%, và các CEO có thể toan tính về lương của họ, họ có thể bị cám dỗ làm những việc như CEO của Enron, Kenneth Lay đã làm (người dịch: ông Lay đã bị truy tố vào năm 2004 về 11 tội danh liên quan đến gian lận cổ phiếu và lừa gạt thông tin liên quan đến công ty của mình), bởi vì họ kiếm được nhiều tiền từ những việc làm đó. Vì vậy trong khi tỷ lệ thuế cao đánh vào tốp những người thu nhập cao có thể làm giảm sự nỗ lực cố gắng của người ta, nó cũng có thể làm giảm những hoạt động đặc lợi của họ.

Bất bình đẳng [P1]

Đây là bài phỏng vấn Daron Acemoglu về 5 cuốn sách mà ông ta cho rằng quan trọng nhất trên lĩnh vực này. Chúng tôi sẽ đưa từng phần. Phần 1 là giới thiệu chung, và nói về cuốn sách “The Race between Education and Technology” của Claudia Goldin và  Lawrence F Katz

Hoa Kỳ, Anh và nhiều quốc gia khác đã trở nên ít bình đẳng hơn trong hơn 30 năm qua. Giáo sư kinh tế học tại MIT nói rằng một điều quan trọng là hiểu tại sao và như thế nào điều này đã diễn ra, cũng như nó có nghĩa gì cho các xã hội của chúng ta.

Bất bình đẳng là những tin tức thường được nhắc đến hiện nay. Chúng ta nên hiểu thế nào về nó và về những điều xung quanh bất bình đẳng?
Bất bình đẳng là một trong những điều đã thay đổi khá nhiều tại Hoa Kỳ và tại những nền kinh tế khác trong hơn ba thập niên qua. Nhiều điều không thay đổi về gốc rễ, nhưng bất bình đẳng thì đã. Việc hiểu được tại sao nó lại diễn ra và những hệ quả của nó cho xã hội chúng ta là một điều quan trọng. Vì vậy, sẽ tốt nếu nó được đề cập như một chủ đề quan trọng trên các bản tin, và không có lý do nào để nó bị cấm kỵ. Người ta nói rằng, không có sự đồng thuận rộng rãi nào trong những nhà khoa học xã hội khi nói về bất bình đẳng, và các nhà kinh tế nói chung có thể nghĩ về nó rất khác so với một người dân bình thường. Tôi không nói ai đúng ai sai, nhưng cuộc trò chuyện cần được mở rộng để mang lại những cái nhìn khác nhau.

Cái nhìn của nhà kinh tế học là gì?

Quan điểm mặc định của những nhà kinh tế học là sự bất bình đẳng phản ảnh sự khác biệt của vốn con người hoặc sự khác biệt về năng lực sản xuất của những người lao động. Nếu anh bắt đầu với tiền đề rằng, những gì mà người ta kiếm được là tương xứng với những đóng góp của họ cho chủ, và cũng có lẽ là cho xã hội, thì sự tăng lên của bất bình đẳng nói với anh một vài điều về năng suất lao động của con người đã phát triển theo thời gian. Điều này tuyệt không phải là điều mà mọi nhà kinh tế học tin tưởng, nhưng có một cái nhìn chung. 
Những nhà kinh tế học đã cắn răng chịu đựng về sự bất bình đẳng khi nhìn vào những điều như sự gia tăng của chênh lệch lợi ích đầu ra của bậc đại học (college premium) trong hơn 30 năm qua tại Hoa Kỳ và tại các nền kinh tế khác, cũng như sự gia tăng khoảng cách tương đối giữa những người thu nhập cao – chiếm khoảng 90% của phân phối thu nhập – trái ngược với con số 10%. Chúng ta đã thấy một sự gia tăng lớn trong bất bình đẳng, được đo bằng nhiều cách, và điều này phản ánh thực tế rằng những cá nhân top trên, những người có đào tạo hơn, những người kiếm được nhiều hơn đã trở nên có nhiều kỹ năng hơn. Công nghệ đã trợ giúp họ, toàn cầu hóa đã tiếp tay cho họ và bất bình đẳng tăng lên vì nguyên nhân này.

Vì vậy nếu một giám đốc điều hành (CEO) đang kiếm được 5 triệu đô la một năm, điều đó là vì anh ta làm ra những việc để xứng đáng với 5 triệu đô la?
Đó là bởi tại sao tôi nhấn mạnh cái điều 90% so với 10%, bởi vì một khi mà anh nhận được mức rất cao, câu chuyện trở nên hơi khó nuốt. Những nhà kinh tế học đã không tập trung vào những CEO bởi 2 nguyên nhân. Điều này đang thay đổi, nhưng một nguyên nhân là hầu hết những nguồn dữ liệu công khai không có thông tin về những CEO. Đó là bởi vì không có nhiều CEO, hoặc nhiều triệu phú. Vì vậy, khi anh lấy 1 mẫu, ví dụ một mẫu 1% của tất cả các hộ gia đình Hoa Kỳ, anh sẽ không có nhiều thông tin về họ.
Thứ hai là, dữ liệu được bảo mật tốt. Anh không thể thấy người ta kiếm được chính xác là bao nhiêu. Anh thấy rằng họ kiếm được rất nhiều, có thể là 250000 đô la, nhưng anh không thấy nếu như họ đang làm ra 25 triệu đô la. Bởi lý do đó, nhiều tài liệu về kinh tế lao động đã tập trung vào những điều như, phải chăng những người có trình độ đại học kiếm được nhiều hơn những người tốt nghiệp cấp 3? Phải chăng những người có bằng sau đại học kiếm nhiều hơn? Điều gì đã làm cho sự bất bình đẳng trong thu nhập giữa những luật sư hoặc bác sỹ hoặc những lao động phổ thông? 

Vậy những người không phải là nhà kinh tế học nghĩ gì, theo cách nhìn của ông?

Cái nhìn của tôi, nếu như tôi là 1 người bình thường, đó là bất bình đẳng là một dấu hiệu của một cái gì đó đang không ổn trong xã hội. Nếu một nhóm đã kiếm gấp đôi so với nhóm khác, và sau đó, hơn 20 năm, tỷ lệ tăng lên bốn, thì đây là 1 điều gì đó có liên quan và có thể ám chỉ một thiếu xót của chính sách xã hội. Cái nhìn của cá nhân tôi là sự hòa trộn giữa cả hai điều này. Nếu anh đang quan sát một người tốt nghiệp đại học bình thường với một người tốt nghiệp cấp 3 bình thường, hoặc điều 90% – 10%, thì những điều, mà những nhà kinh tế học đã nhấn mạnh – công nghệ, toàn cầu hóa, sự thuê ngoài và sự chuyển ra ngoài, sự thay đổi trong việc cung cấp các kỹ năng, v…v – đã đóng một vai trò quan trọng và có thể nói là trong phần lớn các câu chuyện. Nhưng nếu anh muốn hiểu về sự bất bình đẳng ở mức cao nhất, tại sao top 0,1% – thậm chí nhiều hơn cái điều 1% mà những người chiếm phố Wall đang nói – đã kiếm được số tiền lớn đến như thế, thì bạn thực sự phải nghĩ về các khía cạnh chính xách xã hội và khía cạnh chính trị của nó. Có lẽ rằng có một vài thất bại, theo một nghĩa nào đó, trong cách thức mà hệ thống của chúng ta đang vận hành.

Về bức trang thực tại, bất bình đẳng tại Hoa Kỳ, và tại Anh xấu đến mức nào ?

Dựa trên công việc của Thomas Piketty và Emmanuel Saez, nếu anh nhìn từ thập niên 50 đến cuối thập niên 70, số phần trăm trên tổng thu nhập quốc gia của 1% giàu nhất là khoảng 10%. Nếu anh nhìn vào những năm 2000, thì nó là trên 20%. Nó đã tăng lên 25% gần đây và sau đó đi xuống. Tại Anh, nó là khoảng 15% tăng từ 7%. Các xu hướng bất bình đẳng trên 50 năm qua tương tự như trong các nền kinh tế Anglo-Saxon, mặc dù có 1 điều quan trọng rằng nó không phải chỉ là hiện tượng Anglo-Saxon. Có các xu hướng tương tự trong nhiều nền kinh tế khác, dù cho có một số ít là chưa nhận được sự chú ý.
Chẳng hạn như?
Phần Lan và Thụy Điển. Thậm chí ở đó có một sự tăng lên trong nhóm đóng góp nhiều nhất – điều đó không có gì ngạc nhiên, khi mà họ có nhiều công ty đa quốc gia, nơi mà các CEO kiếm được nhiều tiền – nhưng sự gia tăng này rất ít được nhắc đến. Sự đóng góp vào tổng thu nhập quốc dân của nhóm 1% có thu nhập cao nhất là thấp hơn đáng kể.

Một bảng thống kê đã được truyền tay trên Facebook cho thấy một sự so sánh giữa lương của những CEO và của công nhân. Ví dụ, tại Nhật Bản, tỷ lệ là 11/1, tại Đức là 12/1, nhưng tại Hoa Kỳ là 475/1. Điều này nói gì với ông ?

Tôi không chắc về điều đó, và nó còn tùy vào CEO nào mà anh đưa vào danh sách. Nhưng tại Hoa Kỳ, tỷ lệ này là rất, rất cao. Nếu anh nhìn vào lương nói chung mà 500 công ty lớn nhất trả cho CEO, có lẽ nó cao hơn 200 lần lương trung bình của một công nhân ở Hoa Kỳ. Con số này chắc chắn là cao hơn các con số tại hầu hết những quốc gia khác.

Tôi không biết có nên tin vào những điều như vậy không, khi mà ông cũng không thực sự biết chúng đến từ đâu ?
Đúng, thậm chí cả những con số mà anh lấy từ các nhà kinh tế học. Có rất nhiều các khác nhau để đo những điều này. Ví dụ, nếu anh nhìn vào thu nhập của các lao động, thì phần mà top 1% chiếm là thấp hơn, bởi vì hầu hết thu nhập của họ đến từ các lợi ích tư bản. Những con số mà anh đang để ý là rất quan trọng.

Chúng ta hãy đến với những cuốn sách mà ông đã giới thiệuLựa chọn đầu tiên của ông là “Cuộc đua giữa giáo dục và công nghệ”(tên gốc: The Race between Education and Technology), xuất bản bởi Harvard University Press . Ông đã đề cập trong một email trước đây rằng nó là “một cuốn sách phải đọc cho những ai quan tâm đến bất bình đẳng”. Ông có thể nói thêm về điều này.

Đây thực sự là một cuốn sách tuyệt vời. Nó cung cấp một phác thảo rất tốt về mô hình kinh tế chuẩn mực, ở đó số tiền kiếm được là tỷ lệ thuận với đóng góp, hoặc với năng suất lao động. Nó làm nổi bật, bằng một cách rất rõ ràng, rằng điều gì xác định năng suất lao động của các cá nhân và các nhóm khác nhau. Nó lấy ý tưởng từ một câu nói của nhà kinh tế học nổi tiếng người Hà Lan, Jan Tinbergen. Ý tưởng chính là những thay đổi trong khoa học thường làm tăng nhu cầu về những công nhân lành nghề, vì vậy để giữ cho sự bất bình đẳng trong tầm kiểm soát, anh cần phải có một mức tăng ổn định trong việc cung cấp công nhân lành nghề cho nền kinh tế. Ông ta gọi điều này là « the race between education and technology » (tạm dịch là : « Cuộc đua giữa giáo dục và công nghệ »). Nếu công nghệ chiến thắng, bất bình đẳng sẽ có xu hướng tăng lên, nếu giáo dục thắng, bất bình đẳng sẽ giảm. Hai tác giả Claudia Goldin và Larry Katz cho thấy rằng nó là một mô hình khá tốt để giải thích những gì đã diễn ra trong 100 năm qua, hoặc để giải thích lịch sử của Hoa Kỳ.

Họ đưa ra một sự mô tả tuyệt với về mặt lịch sử cho việc làm thế nào hệ thống giáo dục Hoa Kỳ đã được hình thành, tại sao nó phát triển không ngừng, và đã cung cấp thêm rất nhiều lao động có tay nghề trong nửa đầu thế kỷ. Điều này tạo ra sự bình đẳng có ý nghĩa hơn tại Hoa Kỳ so với nhiều nơi khác trên thế giới.

Họ cũng chỉ ra 3 điểm đã thay thổi Hoa Kỳ trong khoảng 30-40 năm qua. Thứ nhất, công nghệ đã làm cho người lao động có kỹ năng hơn, và kiếm được nhiều tiền hơn trước đây. Vì vậy, nếu tất cả các thứ khác là như nhau thì điều đó dẫn tới bất bình đẳng. Thứ 2 là, chúng ta đã ở trong xu hướng toàn cầu hóa. Những điều như kinh doanh với Trung Quốc – nơi mà lao động kỹ năng thấp rẻ hơn nhiều – đang làm hạ thấp tiền lương. Thứ 3, và có thể là quan trọng nhất, đó là hệ thống giáo dục của Hoa Kỳ đang thất bại nghiêm trọng ở một mức độ nào đó. Chúng ta đã không thể làm tăng số thanh niên hoàn thành hết bậc cao đẳng hoặc trung học. Điều này thực sự đáng chú ý, và hầu hết mọi người không chú ý đến nó, nhưng tại Hoa Kỳ, thế hệ những người mà có tỷ lệ tốt nghiệp trung học cao nhất là những người sống ở giữa thập niên 60. Tỷ lệ tốt nghiệp trung học hiện nay thực sự là giảm đáng kể so với lúc đó. Nếu anh nhìn vào các trường cao đẳng, anh cũng sẽ thấy điều tương tự. Đây là một điều cực kỳ quan trọng, và nó khá là sốc. Nó có một ảnh hưởng lớn đến bất bình đẳng, bởi vì nó đang làm khan kiếm lao động có kỹ năng.

Phải chăng Goldin và Katz đi sâu vào những lý do làm cho giáo dục tại Hoa Kỳ đang thất bại?

Họ thảo luận, nhưng không ai biết. Nó không đến từ 1 nguyên nhân, đây không phải là 1 câu chuyện đơn giản. Không phải là chúng ta đang chi tiêu ít hơn cho giáo dục. Thực ra, chúng ta đã chi tiêu nhiều hơn. Chắc chắn rằng không phải những trường cao đẳng là không có giá trị, nó rất có giá trị. Sự chênh lệch giữa số tiền kiếm được của những người tốt nghiệp cao đẳng và những người tốt nghiệp trung học đang tăng nhanh. Nó không có nghĩa rằng Hoa kỳ đang đầu tư không đủ cao vào các trường thu nhập thấp. Nhiều là đằng khác. Không phải là bữa trưa miễn phí, nhưng có nhiều tài trợ và có chi tiêu dưới các hình thức khác nhau từ cả chính quyền tiểu bang và liên bang.

Vì vậy, không có giải pháp dễ dàng?
Không, không có giải pháp dễ dàng. Nhưng quan trọng là điều này phải trở thành một ưu tiên hàng đầu. Có rất nhiều điều có thể được thực hiện. Cải cách, chi nhiều hơn vào trường học, những cách này tuy không phải là viên đạn bạc[] nhưng chắc chắn sẽ có ích.

Thật là mỉa mai, trong khi Hoa Kỳ có những trường đại học hàng đầu trên thế giới. Ông là người Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng ông đang ở đây. Nhiều người nước ngoài cũng thành công ở đây nhờ vào hệ thống giáo dục.
Vâng, nhưng ta có thể cắt nghĩa theo 2 cách. Hoa Kỳ là một vùng đất của các cơ hội, vì vậy nó đã thu hút các kỹ sư có tay nghề, các nhà khoa học và các tiến sỹ. Mặt khác, một trong những điều góp phần gây ra tỷ lệ thấp trong việc hoàn thành chương trình học trong các trường trung học và cao đẳng, đó là Hoa Kỳ mở cửa cho những người nhập cư, và quá trình hòa nhập thường chậm. Nếu bạn nhìn vào tỷ lệ đó của những người nhập cư, đặc biệt là những người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, thì con số này thấp hơn rất nhiều so với những người không phải là người nhập cư.

Tại sao các quốc gia thất bại? Daron Acemoglu

January 5, 2012
Why Do Nations Fail?
by Daron Acemoglu – thành viên của nhóm đặc biệt về quyền tư hữu, sự tự do và thịnh vượng.

Khi những người Ả rập ly khai đủ hiểu biết, thì thực tế đòi hỏi họ phải giải quyết câu hỏi : làm thế nào để tổ chức xã hội?

Lời của tổng biên tập : The Region, một tạp chí của Cục dự trữ liên bang của bang Minneapolis, gần đây thảo luận về thị trường lao động, về các quyền sở hữu tài sản, về sự ấm lên của trái đất và về mùa xuân Ả Rập với nhà kinh tế học Daron Acemoglu tại Viện Công Nghệ Massachusetts, ông cũng là thành viên của nhóm đặc biệt John and Jean De Nault thuộc viện Hoover về quyền sở hữu tài sản. Dưới đây là một phần của cuộc phỏng vấn. Bản đầy đủ của cuộc phỏng vấn có thể tìm tại đây

Region: Công việc của ông cùng với James Robinson về sự chuyển đổi trong kinh tế chính trị. Tôi mong rằng ông có thể chia sẻ những ý tưởng của ông [về việc làm thế nào] cho việc áp dụng nghiên cứu đó vào vấn đề Mùa xuân Ả Rập vừa qua.

Acemoglu: Vâng, trong 15 năm qua, hầu hết những nghiên cứu của tôi đúng là những gì mà anh nói, nói chung là kinh tế chính trị. Tại sao tôi không nói từng phần một, và sau đó chúng ta có thể mường tượng đi đến những sự chuyển đổi.
Region: Thật tốt quá.

Acemoglu: Nghiên cứu của tôi, xét về khía cạnh nghề nghiệp, không phải bắt đầu với kinh tế chính trị, mặc dù tôi gốc là bắt đầu học kinh tế trong trường trung học và đại học, và tôi bị cuốn hút bởi lĩnh vực mà ngày nay anh có thể gọi là kinh tế chính trị – mối tương tác giữa chính trị và kinh tế.
Nhưng sau đó tại trường đại học và sau đại học, tôi bắt đầu làm việc trên những vấn đề liên quan đến vốn con người, sự tăng trưởng kinh tế và những vấn đề khác. Nhưng như anh biết, những vấn đề thực sự của tăng trưởng kinh tế không chỉ đơn thuần chỉ là một vài nước có sự phát triển về công nghệ, còn một vài thì không; và một vài nước có tốc độ tích lũy cao, và một vài thì không. Những điều đó thực sự liên quan đến thực tế rằng các xã hội đã chọn những con đường về căn bản là khác nhau trong việc tổ chức xã hội đó.

Vì vậy có nhiều sự không đồng nhất đầy ý nghĩa liên quan đến kết quả kinh tế trong các cấu trúc chính trị của các xã hội. Và điều này dẫn đến có nhiều thiết chế điều chỉnh nền kinh tế và tạo ra những sự thúc đẩy khác nhau. Và tôi bắt đầu tin tưởng – và đã thành phản xạ trong công việc của tôi – rằng bạn không thể tạo ra đủ sự tiến bộ trong vấn đề tăng trưởng kinh tế trừ khi bạn bắt đầu giải quyết những vấn đề căn bản về mặt thể chế của tăng trưởng trong cùng thời gian đó.

Điều đó đã đặt tôi vào hướng nghiên cứu để cố gắng hiểu, về mặt lý thuyết cũng như thực nghiệm, làm thế nào thể chế tác động đến những sự thúc đẩy về kinh tế và tại sao thể chế lại khác nhau trong các quốc gia khác nhau. Chúng phát triển thế nào theo thời gian. Và vấn đề chính trị của các thể chế, nghĩa là, không hẳn chỉ là về mặt kinh tế, những thể chế này lại tốt hơn những cái khác, nhưng tại sao lại là nó – những dạng thể chế rõ ràng là khác nhau lại được đặt tại đó?

Những gì mà tôi muốn nói là sẽ không hợp lý, trong cách hiểu của tăng trưởng kinh tế, để có một tập hợp những thiết chế mà xóa bỏ sự sở hữu cá nhân hoặc tạo ra sở sự sở hữu cá nhân với sự bấp bênh cao, ở đó tôi có thể xâm phạm đến những quyền của anh. Nhưng về mặt chính trị, lại có nhiều lý do cho điều đó.

Nếu tôi có quyền lực chính trị, và tôi lo ngại anh giầu và đe dọa tôi về mặt chính trị, thì điều đó có thể khiến tôi tạo ra một tập hợp các thiết chế mà sẽ không mang đến cho anh quyền sở hữu cá nhân chắc chắn. Nếu tôi lo ngại anh đang bắt đầu những việc kinh doanh mới và lấy đi những công nhân của tôi, sẽ có lý cho tôi hòng sắp đặt anh theo một cách mà nó sẽ giết chết năng lực phát triển hoặc khả năng tạo sự đổi mới của anh.

Như vậy, nếu tôi thực sự lo ngại mất đi quyền lực chính trị vào tay anh, điều đó thực sự dẫn tôi đến những hoạt động chính trị của thiết chế, logic ở đó không phải là quá nhiều hệ quả kinh tế nhưng sẽ nhiều hệ quả chính trị. Điều này muốn nói rằng, khi xem xét một sự cải cách nào đó, điều mà hầu hết các chính trị gia và các chóp bu quyền lực trong xã hội thực sự quan tâm đến không phải là cuộc cải cách này sẽ làm cho số đông dân chúng tốt hơn mà là nó sẽ làm dễ hơn hay khó hơn cho họ trong việc giữ vững quyền lực.

Những điều đó nằm trong danh sách những vấn đề mà sẽ trở thành ưu tiên hàng đầu nếu bạn muốn hiểu những thứ đó hoạt động thế nào. Và lĩnh vực này là nơi mà tôi dành phần lớn trời gian trên 10 năm qua, mặc dù tôi đã làm việc với nó trong 16 năm hoặc hơn, mà nhiều phần làm cùng với Jim Robinson. Jim và tôi là đồng tác giả của một cặp bài báo về ảnh hưởng của thể chế đối với sự tăng trưởng kinh tế. Chúng tôi đã viết nhiều về quá trình và sự chuyển đổi chính trị, về độc tài, về dân chủ và một loạt bài về những vấn đề của quyền lực chính trị và những tinh hoa, và những thứ khác. Một số trong chúng làm nền tảng cho cuốn sách của chúng tôi : “Nguồn gốc kinh tế học của độc tài và dân chủ” – “Economic Origins of Dictatorship and Democracy”, tôi sẽ trở lại với câu hỏi của anh về mùa xuân Ả Rập. Và một số trong chúng là nguồn gốc dẫn đến cuốn sách mới này mà chúng tôi đã hoàn thành – thực ra thì nó đây [đưa ra một tập dày những bài báo trên bàn của ông ta] và sẽ xuất bản bào năm sau.

Region: Tại sao lại có quốc gia thất bại?
Acemoglu: Vâng, tại sao lại có quốc gia thất bại? Đây là một vấn đề rộng vì nhiều nguyên nhân sâu xa, theo chúng tôi là, của sự khác biệt rất lớn của những kết quả kinh tế và những tổ chức kinh tế mà chúng ta quan sát trên thế giới, và chúng ta cố gắng, theo một cách nào đó, để có được một lý thuyết chặt chẽ về điều này, điều đó rất khác với những điều vẫn thường thấy trên các phương tiện thông tin truyển thông và của giới chính sách. Nó cũng, với một mức độ nào đó, khác nhau từ những điều mà những nhà kinh tế học nói. Chúng ta chú trọng nhiều hơn về những tác động chính trị của nó hơn là địa lý và văn hóa, những điều mà nhiều người làm chính sách và truyền thông chú trọng, hoặc những điều liên quan đến chính sách tối ưu và làm thế nào chúng ta có thể cải thiện chính sách ngoại biên, và làm thế nào chúng ta có thể thiết lập chính sách cho tốt hơn, những điều mà các nhà kinh tế học dành hầu hết sự quan tâm.

Câu chuyện của chúng ta xoay quanh việc những ràng buộc chính trị ở đây là trung tâm. Và sự phát triển đang, hầu như tất cả, phá vỡ những ràng buộc chính trị đó, hơn là so với việc chỉ suy nghĩ trong phạm vi của sự tồn tại các ràng buộc chính trị, và tìm kiếm sự xây dựng chính sách thuế và bảo hiểm thất nghiệp tối ưu, và những thứ khác cũng trong phạm vi những ràng buộc này.

Hiển nhiên rằng, điều thứ 2 là sự bổ xung, nhưng tôi nghĩ triển vọng này khá là khác từ những gì đang xảy ra ngoài kia. Về vấn đề thực sự lớn này, nó đã làm tôi rất bận rộn trong vài năm qua.
Xin lỗi về những sự dài dòng xung quanh vấn đề, bây giờ cho phép tôi đến với câu hỏi mà anh đã hỏi liên quan đến mùa xuân Ả Rập.

Region: Ah, vâng. Tôi thấy rằng lời nói đầu trong “tại sao có quốc gia thất bại” đúng là như vậy. Ông viết rằng, “ Tại sao những người Ai Cập lại đến kín quảng trường Tahrir [để hạ bệ Hosni Mubarak, và những gì nó muốn nói cho chúng ta hiểu về nguyên nhân của sự thịnh vượng và sự nghèo đói]”

Acemoglu: Chính xác. nếu anh muốn nghĩ đến mùa xuân Ả Rập, tôi nghĩ có một cặp những vấn đề trung tâm, và một phần trong chúng là những vấn đề trọng tâm của cuốn sách này, và một phần khác trong chúng là trọng tâm của cuốn sách trước “Nguồn gốc kinh tế của đọc tài và dân chủ” và cuốn sách mới này.
Vấn đề thứ nhất, điều mà chúng tôi chú trọng nhiều trong cuốn sách này, đó là những xã hội này không phải là độc tài chỉ theo nghĩa họ thủ tiêu sự bầu cử. Chúng là độc tài theo nhiều dạng đặc biệt, nhưng một dạng mà khá phổ biến trên thế giới mà ở đó một nhóm nhỏ của xã hội kiểm soát cả quyền lực chính trị và nguồn lực kinh tế.

Vì vậy nếu anh quan sát tất cả những xã hội từ Tunisia đến Ai Cập đến Syria đến Bahrain hoặc tới Lybia, một nhóm chóp bu nhỏ đã kiểm soát tất cả quyền lực chính trị, giới hạn năng lực của hầu hết những người khác trong xã hội để có mọi tiếng nói chính trị và sử dụng quyền lực chính trị của họ để phân phối nguồn lợi kinh tế của quốc gia cho chính họ mà bỏ qua tất cả cá nhân khác.
Tại Lybia, đó là một điều hiển nhiên theo một nghĩa nào đó. Cũng như vậy tại Syria, báo chí có giải thích rất chi tiết, bằng cách nào nhóm Alawite, ví dụ như, ra lệnh cho không chỉ tất cả các vị trí về lợi ích kinh tế mà cả những vị trí cao nhất trong cơ quan công quyền và quân đội. Tại Bahrain, nó khá là rõ ràng với nhóm Sunni.
Tại Tunisia và Ai cập, nó là một hình thức nhẹ nhàng hơn, trong đó nhiều lợi ích kinh doanh béo bở có đại diện rất mạnh trong nhóm thân cận của Mubarak hoặc Ben Ali. Và ở những nước này, quân đội và các lực lượng an ninh đã kìm giữ rất hiệu quả mọi loại hoạt động dân chủ thực sự, trong trạng thái không thể diễn ra được.
Hậu quả, có lẽ lại không ngạc nhiên, là khi mà anh có một hệ thống như thế, ở đó một nhóm rất nhỏ kiểm soát quyền lực chính trị cho mục đích kinh tế, và cũng khá đáng thất vọng về tăng trưởng kinh tế. Nó không khuyến khích các công nghệ mới đi vào cuộc sống, nó không cho phép người dân sử dụng tài năng của họ, nó không cho phép thị trường hoạt động, nó không đưa lại động lực cho một nhóm lớn dân số, hơn hết, nó khuyến khích con người, những người kiểm soát quyền lực chính trị, thủ tiêu nhiều hình thức đổi mới và thay đổi kinh tế bởi vì họ sợ nó sẽ là một mối đe dọa tới sự ổn định của họ.
Vì vậy, kết quả là phần lớn dân số đã bị ngăn chặn tiếng nói chính trị, họ đã bị ngăn chặn về mặt quyền lực kinh tế và họ cũng nhìn thấy những tiêu chuẩn cuộc sống của họ không tăng lên bởi vì sự tăng trưởng kinh tế là không đủ.

Có những ngoại lệ theo nghĩa Tunisi và Ai Cập đã có một số tăng trưởng kinh tế. Họ đã có những cải thiện về giáo dục trong hơn 20 năm qua. Nhưng bởi phần lớn của xã hội cảm thấy rằng họ đã không nhận được đủ từ việc này, và họ cũng có rất ít niềm tin rằng hệ thống chính trị như thường lệ sẽ phục vụ lợi ích của họ.

Vậy thì làm gì bây giờ? Hầu như tất cả mọi lần, không gì cả, bởi vì một hệ thống như vậy được cấu trúc và tồn tại bởi vì nó đã thành công trong việc thủ tiêu những tiếng nói và quyền lực của số đông. Nếu như số đông có quyền lực thực sự, thì những hệ thống như vậy không thể tồn tại được – theo đúng cách mà một xã hội thuộc địa không thể sống sót nếu như 90% số nô lệ thực sự có 1 tiếng nói chính trị. Nhưng 90% này có lợi thế số lớn nếu như họ có thể được tổ chức, ví dụ như ở Syria nơi mà những người Alawi cai trị xã hội, nhưng vẫn chỉ là một số rất nhỏ. Vì vậy rất khó để kìm giữ số đông luôn ở trong ao tù. Đặc biệt là khi có một vài bất ổn và một vài tia lửa, như điều đã đến từ Tunisi. Trong phần còn lại của trung đông, người ta đã bắt đầu thiết lập và giải quyết những bài toán về hành động tập thể. Họ đã nêu ra những đòi hỏi thực sự đối với những người cầm quyền.

Và những đòi họ của họ sẽ là gì? Những người đã đến quảng trường Tahrir đỏi hỏi những thay đổi cơ bản và sâu sắc. Họ muốn những thay đổi sâu sắc, cơ bản, một phần vì lý do kinh tế. Nhưng cũng là, nếu anh đọc blog và những thứ khác họ viết, nó cũng rõ ràng rằng họ cho rằng những sự thay đổi căn bản chỉ có thể đến từ sự thay đổi chính trị. Thực tế, từ lúc bắt đầu, có nhiều thảo luận, tranh luận về cái gọi là “cải cách hoặc không cải cách”, và họ đã tập trung vào thay đổi chính trị.
Vì vậy, động thái đầu tiên của chế độ Mubarak nói, “ok, tốt thôi, anh muốn những cải cách? Chúng tôi sẽ đưa cho anh những cải cách. Chỉ cần về nhà thôi?” Và những phản ứng của người dân ở quảng trường Tahrir là, “không, ông điên à, nếu chúng tôi về nhà, ông lại tiếp tục với hệ thống y hệt trước đây.”
Đây là khung cảnh mà sẽ xảy ra, yếu tố chính của khung cảnh mà Jim và tôi đã phát triển trong “Những nguồn gốc kinh tế của độc tài và dân chủ”. Điều nãy cũng được mô tả ở một mức độ nào đó tại đây [trong cuốn “Tại sao các quốc gia thất bại.”] . Nếu anh có thể giải quyết những vấn đề công việc tập thể và thực hiện một vài đòi hỏi, thì sự hứa hẹn về thay đổi hoặc những viên kẹo kinh tế hoặc những cải cách chính trị trong tương lai là không đủ tốt đối với anh. Bởi vì nếu tôi đi và dập tắt những hành động tập thể mà đang diễn ra tại quảng trường Tahrir hoặc mọi nơi khác thì ngày mai, động lực nào khiến anh thực hiện những cải cách kinh tế hoặc chính trị? Và đó chính xác là những gì mà người dân tại quảng trường Tahrir nói: “không, chúng tôi không tin ông. Thời điểm mà chúng tôi về nhà, ông sẽ lại tạo ra hệ thống như cũ.” Cách duy nhất để làm lên những cải cách đáng tin cậy là thay đổi sự phân phối quyền lực chính trị và tạo những cải cách ngay lập tức. Đó chính là những gì mà người dân tại quảng trưởng Tahrir muốn.
Vì vậy, ở một vài cấp độ, chúng ta hiểu qua ống kính của khung cảnh nà rằng làm thế nào những động lực đã được thực hiện hóa, tại sao những đòi hỏi đã được thực hiện theo cách mà nó đã được thực hiện và tại sao những người cầm quyền đã có những nhượng bộ nhưng họ đã không thành công khi có những đòi hỏi về sự cải cách sâu sắc về chính trị.

Câu hỏi lớn là : Điều này sẽ là một cuộc cách mạng như Cách Mạng Ánh sáng tại Anh đã mở ra một quá trình chuyển đổi sâu sắc trong hệ thống chính trị liên quan đến những thay đổi kinh tế? Cuối cùng, những cải cách chính trị là nền tảng để cho sự tăng trưởng của các quốc gia. Đó là một trong số những lập luận mà chúng tôi đã làm.

Hoặc nó sẽ trở thành, theo một nghĩa nào đó, giống như Cuộc Cách mạng Bôn-sê-vick hoặc những phong trào độc lập ở nhiều vùng dưới Sahara của Châu Phi trong những năm 1960, nơi mà đã có những thay đổi về quyền lực chính trị, nhưng nó đến từ một nhóm này tới 1 nhóm khác mà sau đó lại tạo ra hệ thống và bắt đầu cùng một quá trình bóc lột như trước đó?

Những người Bôn-sê-vick rõ ràng là rất khác với những người Romanov, nhưng họ đã tạo ra một hệ thống bóc lột thậm chí nhiều hơn so với chế độ Czarist tại Nga. Nhiều lãnh đạo độc lập ở vùng Châu Phi hạ Sahara, từ Nkrumah tới Mugabe tới Kenyatta, rõ ràng đã cam kết để bài người da trắng. Và họ đã có đòi hỏi rất chính đáng, giống như người Ai Cập làm ngày hôm nay, nhưng hệ thống mà họ tạo ra hoặc thoái hóa thành một cái gì đó xấu hoặc cá nhân họ đã tạo ra một cái gì đó xấu xa, giống như Mugabe đã làm khi ông ta phá hủy chế độ phân biệt chủng tộc dã man của Smith, và ông ta tạo ra một vài thứ cũng dã man như vậy.
Gần đây, trong thập niên 60, Nkrumah đã lên nắm quyền tại Ghana, và tại Sierra Leone, Margai lên nắm quyền. Margai đã lại tạo ra một hệ thống cực kỳ bóc lột. Nó dường như chỉ nhỉnh hơn so với hệ thống của Anh, nhưng sau đó Margai bị thay thế bởi người anh em cùng cha khác mẹ và sau đó bởi Siaka Stevens vào năm 1967. Stevens đã làm những điều tồi tệ hơn rất nhiều, nhưng tất cả đều bắt nguồn từ những gì mà Margai đã làm. [Ông ta] chỉ thực hiện trên hệ thống của người anh, và dùng nó cho những tham vọng chính trị và kinh tế của bản thân. Dưới thời Stevens, toàn bộ hệ thống đã sụp đổ.
Vì vậy, không có một sự đảm bảo rằng những biến động chính trị như trên sẽ chuyển biến thành cách mạng chính trị trên diện rộng, như trái ngược với một cuộc đảo chính tại cung điện nơi mà một nhóm lấy quyền từ 1 nhóm khác. Và một lần nữa, một phần của “Tại sao các quốc gia thất bại” đang cố gắng hiểu những điều kiện mà theo nó người ta có thể đặt và phân tích những lát cắt dài của lịch sử và các biến thể của thể chế mà chúng ta thấy xung quanh chúng ta từ sự soi sáng đó.

Câu chuyện giáo dục

Hôm nay đọc một bài trên vietnamnet.vn

    Học sinh chép, quay bài : giằng xé bắt hay thả.

Thật sự buồn khi mọi người đã công khai sự gian dối của bản thân. Một lý do duy nhất cho sự thả cho học sinh quay chép bài : để cho nó tốt nghiệp vì nó đã học 12 năm.

    1. Nguyên nhân của sự việc

Các giáo viên nói rằng họ thương học sinh đi học 12 năm rồi, bây giờ nó ko tốt nghiệp thì biết làm gì?
Ở đây cần làm rõ một số vấn đề.
- học sinh có đi học 12 năm không? học sinh có học không? các bài kiểm tra có thực sự làm hay là quay cóp? giáo viên chấm điểm có chính xác hay không, có chuyện xin điểm hay không?
Nếu học sinh học hành nghiêm túc mà lên được lớp 12 thì chúng ta không cần thiết phải nói tiếp câu chuyện nữa. Vì rằng, nếu học hành nghiêm túc, thi cử nghiêm túc mà họ lên được lớp 12 thì đã chứng tỏ rằng họ có năng lực, và năng lực đó khá ổn. Hơn nữa, nếu mọi việc được làm nghiêm túc đến đó, thì với sự kiêu hãnh của những người trẻ tuổi, họ ko chấp nhận sự bố thí điểm để tốt nghiệp. Họ muốn chứng tỏ thực lực của mình.
- các giáo viên có thương học sinh hay không.
Có, họ thương học sinh, muốn học sinh của mình học tốt.
- họ thương như vậy có đúng cách hay không?
Không. Chúng ta leo lên ngọn núi là 1 quá trình rèn luyện để khỏe mạnh. Nếu chúng ta ngồi trực thăng lên độ cao 4000 m thì chỉ đi 1 lúc là chúng ta ta ngất liền. Cũng như vậy, học sinh ko được rèn luyện nghiêm túc, tự vượt qua khó khăn thì khi ra đời nó sẽ vấp ngã. Tưởng tượng rằng có 1000 người được lên đỉnh núi bằng dây cáp, hoặc trực thăng. Họ chạy 1 lúc, cả đám chết hết, họ sẽ ko đủ năng lực, sức khỏe để thích nghi với độ loãng của không khí. Thay vào đó nếu để tất cả tự leo, thì chẳng hạn có 100 người lên, và 100 người sống khỏe mạnh, sau đó có thể giúp đỡ những người đi chậm.
Câu chuyện tốt nghiệp này cũng vậy.Chúng ta phải giáo dục học sinh một cách tuần tự, đó là 1 chặng đường leo núi. Phải thích nghi dần, phải tự bản thân vượt qua các chướng ngại, vì rằng ko rèn luyện thì sẽ không có sự khỏe mạnh. Có như vậy thì khi tốt nghiệp, các em mới có đủ hành trang trong cuộc sống, lựa chọn học tiếp bậc cao hơn hay là đi làm, hay là học ngắn hạn. Nếu các em ko đủ hiểu biết, các em sẽ vấp ngã, và số đó là rất nhiều. Xã hội lại bị kéo chậm lại vì phải cần thời gian đào tạo lại các em (các em tự đứng lên hoặc xã hội giúp, trong mọi trường hợp thì vẫn tốt công sức).

Ta sẽ đi thêm sâu hơn một chút về vấn đề văn hóa và luật pháp.
Giáo viên biết rằng quay cóp, chép bài là một việc xấu. Nhưng dường như họ không thấy rằng đó thực sự là một việc vi phạm pháp luật, một sự gian dối, sự trung thực bị hủy hoại. Khi chúng ta hủy hoại sự trung thực của chính chúng ta, thì nhân cách chúng ta sẽ bị ảnh hưởng. Điều này cần tuyệt đối tránh, chúng ta bắt buộc phải tuân thủ luật pháp, tuân thủ những quy tắc đạo đức căn bản nhất : trung thực.
Sự thỏa hiệp với cái xấu này có thể đến từ 2 nguyên nhân :
- chính giáo viên cũng ko nghĩ đến rằng điều này có thể hủy hoại nhân cách học trò, họ cũng ko nghĩ rằng đó là việc vi phạm luật. Nguyên nhân này cũng nói lên sự hạn chế trong nhận thức của giáo viên.
- văn hóa làng xã, xuề xòa đã nói với người giáo viên rằng : thôi, tặc lưỡi cho qua giúp nó đi.
Trong cả 2 trường hợp thì đều thấy 1 thực trạng đáng buồn là chính người thầy cũng đã không thật tốt.

    2. Cách khắc phục vấn đề chiến lược

Có 2 điều cần giải quyết
- luật và việc thực thi luật.
- văn hóa và các quy tắc đạo đức căn bản.

Ta nói một chút về điều thứ nhất. Làm sao để đất nước thượng tôn pháp luật. Nhìn vào quá trình lịch sử thì ta có thể thấy quá trình này của chúng ta gian nan hơn của phương tây. Việc cải cách luật pháp hiện nay vướng phải một vấn đề về cấu trúc của thể chế chính trị. Với tình hình hiện nay rất khó có thể nghiêm trị những người bị lỗi.

Điều thứ 2 là về tâm lý, văn hóa. Đó là có tội thì xử, có công thì thưởng. Hai điều này cần sự độc lập. Trong tự nhiên, việc này cũng hết sức là logic. Bạn có thể leo lên cao, thưởng thức phong cảnh đẹp, nhưng khi bạn mắc lỗi, bạn bị ngã thì cái giá quả là đắt.

    3. Cách thức cải cách thi cử.

– cải cách từ nhỏ, học hành nghiêm túc, quát triệt tư tưởng là nghiêm túc từ 1 khóa học nào đó. Bắt đầu từ khóa học lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4 từ năm 2012. Chú ý rằng việc thay đổi ý thức là một quá trình, do vậy ta phải có lộ trình thực hiện cho mọi việc được êm.
– giáo dục sự trung thực là một việc khó. Đòi hỏi cha mẹ trung thực, thầy cô trung thực. Ta cần tính đến khả năng khi lớn lên, chúng sẽ thắc mắc và phản ứng quyết liệt với việc giả dối của xã hội. Cuộc sống hiện thực có thể làm chúng sốc và gây tiêu cực lên tâm lý của trẻ. Như vậy vấn đề rốt ráo là sự trung thực, nghiêm minh của tầng lớp lãnh đạo, nó đòi hỏi việc thực thi pháp luật thật nghiêm.
- việc thi tốt nghiệp THCS : cần phải làm tốt, nghiêm túc. Có sự phân luồng, nếu hs muốn đi theo con đường vừa học nghề, vừa học kiến thức phổ thông nữa thì cho họ theo. Còn lại sẽ lên cấp 3.

- học cấp 3 nghiêm túc. Thi tốt nghiệp nghiêm túc. Sau đó thì sẽ có các kỳ tuyển vào các trường ĐH, bằng cách xét hồ sơ hoặc trường tự tuyển. Chú ý là phải cho trường tự chủ, tự tuyển sv.

Vấn đề là những người thực hiện, ở đây là những giáo viên, có động cơ nào để làm mọi việc nghiêm túc? họ khó khăn về kinh tế, và vì để giải quyết những nhu cầu thiết yếu của gia đình, họ phải làm 1 điều gì đó để có tiền. Tồn tại một cái giá của việc làm bậy, giá này thể hiện những lợi ích mà họ mất đi khi họ làm bậy, có thể là bị kỷ luật, bị đuổi việc… Giá này càng rẻ thì việc làm bậy càng nhiều. Như vậy phải tăng cái giá này lên thì sản phẩm(những việc làm bậy) sẽ giảm xuống. Tăng giá này bằng cách nào? có 2 cách là, tăng lợi ích của việc làm tốt (tăng lương), và tăng hình phạt cho việc làm bậy.

François Sureau

Hôm nay mình đọc một chút về ông này. Không hiểu biết nhiều về giới trí thức Pháp nhưng dễ nhận ra rằng số lượng của họ rất nhiều, nhiều hơn Việt Nam mình rất nhiều. Tất nhiên, có người bảo rằng mình nói thừa, họ phát triển thế đương nhiên là hơn mình. Đúng như vậy, nhưng việc ngậm ngùi khi mà trí thức của mình chưa bằng của họ thì ai chẳng có.
Mình rất mong muốn có nhiều sách tiếng việt của các học giả người Việt mình, nhưng sẽ thật khó nếu không có không gian cho học thuật.
Không gian học thuật của mình so với họ khác chi cây non so với đại thụ.

Đưa tạm vài linh ra đây để đánh dấu về ông này.

  1. Wiki
  2. 20/12/2010, Inigo ou la liberté absolue, de François Sureau, par Élisabeth Bart
  3. Interview François Sureau on dailymotion
  4. La déchéance de la nationalité : deux catégories de Français ?: Bài này bàn về chuyện có nên tước quốc tịch Pháp của những cá nhân nhập quốc tịch Pháp được dưới 10 năm trong trường hợp họ phạm tội nghiêm trọng.

Công việc nghiên cứu vừa đòi hỏi khả năng làm việc theo nhóm, và còn một điều rất quan trọng là khả năng làm việc độc lập đôi khi là đi trên còn đường một cách cô độc. Mà khả năng chịu đựng cô độc này, theo cá nhân mình, người tây cao hơn chúng ta rất nhiều. Văn hóa làng xã không hề giúp đỡ cho sự phát triển khả năng này.

Thấy trên vài báo, vài diễn đàn, một vài PhD students nghênh ngang nói là bài của họ dễ dàng được đăng báo. Mình cũng thấy hơi ngậm ngùi, tầm như thế mà đã dám vỗ ngực. Nhìn trên mấy trang báo của Pháp, những bài được đăng toàn là của những học giả hàng đầu trên các lĩnh vực đó. Mình không biết là việc vẫn còn là sinh viên, kể cả PhD students mà được đăng bài trên lemonde hoặc lepoint có phải là một việc bình thường không? cảm nhận cá nhân ban đầu của mình là rất khó, có phần không tưởng.

Khủng hoảng của xã hội Việt Nam

Xuất phát từ bài viết của cố Gs Trần Đức Thảo LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT TRONG CUỘC KHỦNG HOẢNG CỦA XÃ HỘI PHONG KIẾN VIỆT NAM
một câu hỏi được đặt ra là : có thể nào tránh được vết xe đổ này trong tình trạng hiện nay của xã hội Việt Nam? Mình không muốn nhìn thấy một bài viết tương tự thế này nhưng xuất hiện sau 100 năm.
Oé, nghĩ đến đây mà sởn da gà. :(

Khi sự riêng tư bị tác động

Sau vụ án xét xử ông Cù Huy Hà Vũ, anh Ngô Bảo Châu viết một bài bình luận. Cá nhân mình chỉ thích câu cuối của bài là “Không thể lấy sự cẩu thả và sự sợ hãi làm phương pháp bảo vệ chế độ.”
xin chép cả bài của anh NBC về đây làm tư liệu.

    Về sự sợ hãi

    Ngô Bảo Châu

    Tôi vốn không đặc biệt hâm mộ ông Cù Huy Hà Vũ. Những lý lẽ ông đưa ra tôi cũng không thấy có tính thuyết phục đặc biệt. Nhưng với những gì xảy ra gần đây, ông thể hiện mình như một con người không tầm thường. Như Hector người thành Troy, như Turnus người Rutuli hay như Kinh Kha người nước Vệ, ông Vũ không hề sợ hãi khi phải đối mặt với số phận của mình. Những nhân vật huyền thoại này đã làm mọi thứ để được đối mặt với số phận, để hoàn thành sứ mệnh của mình trong cuộc đời này.
    Đối diện với ông Vũ là những người bắt ông bằng hai bao cao su đã qua sử dụng, là phiên tòa nửa công khai, nửa bí mật xảy ra ngày hôm qua và là ông quan tòa từ chối thực hiện thủ tục tố tụng để tránh tranh luận về nội dung những bài viết, chứng cớ về những việc được cho là vi phạm pháp luật của ông Vũ. Có cố tình làm mất thể diện quốc gia, chắc cũng khó mà làm hơn mấy ông bà này. Nghĩ mãi tôi cũng chỉ tìm ra hai cách lý giải. Khả năng thứ nhất là họ muốn làm nhanh cho xong việc. Trong trường hơp này, họ rất xứng đáng được truy cứu trách nhiệm. Khả năng thứ hai là ông quan tòa sợ phải đối mặt với những lý lẽ của ông Vũ. Trong trương hợp này, rất nên tạo điều kiện cho ông ta chuyển sang công tác khác, phù hợp hơn.

    Không thể lấy sự cẩu thả và sự sợ hãi làm phương pháp bảo vệ chế độ.

Hôm nay vào blog http://thichhoctoan.wordpress.com của anh Ngô Bảo Châu thì thấy anh ấy đã thiết lập chế độ private, tức là chỉ những người được anh ấy mới thì mới đọc được blog của anh ấy.

“The blog http://thichhoctoan.wordpress.com was marked private by its owner. You need to be invited to view this blog. For more information about blog privacy settings, please visit our support site.”

Có vẻ sự riêng tư của anh NBC đã bị tác động, sau khi viết entry bình luận về vụ ông Vũ thì có rất nhiều người đọc bài của anh NBC. Dĩ nhiên có những ý kiến không hài lòng, có lẽ anh Châu đã bị tác động nhiều từ sau khi anh có một số bài bình luận về các hoạt động chính trị của nước nhà. Giờ đây anh là người mà cả đất nước Việt Nam biết đến, và vì vậy cuộc sống của anh, bị bên ngoài tác động, hẳn nhiên đã không còn giữ được sự an bình như ngày trước.

Cá nhân mình thấy hơi ngậm ngùi vì điều này. Nên làm hay không nên làm là việc khó nói, nhưng cái tâm trạng ngậm ngùi là người ta có thể phát hiện thấy rất rõ. Anh NBC có lẽ không phải là người ưa thích sự ồn ào, và giờ đây nó đã đến với anh.

Khi người ta học thiền, người ta lấy yêu thương làm gốc, nhưng đối diện với yêu thương, nhiều khi lại là vũ khí. Tuy nhiên, khi yêu thương là gốc thì vũ khí đâu có đáng sợ.

ps: thêm chút về sự so sánh của anh Ngô Bảo Châu giữa ông Vũ và Hector. Mình tôn trọng ông Vũ ở điểm ông ấy không tỏ ra sợ hãi, đây là điểm chung so với Hector. Tuy nhiên, về tổng thể, mình khâm phục Hector hơn ông Vũ.

Nam Thái Bình Dương, phần 1 : Cảng

Phần 1 : Cảng.
Tặng Toàn, Hòa và Quân

Nhật ký này ghi lại những chuyến đi trên vùng biển và đảo nam Thái Bình Dương. Những chuyến đi, những con tầu, những hòn đảo, những con người, tất cả đã cho chúng ta những trải nghiệm không thể nào quên. Tất nhiên, biển bao la mạnh mẽ cùng các hòn đảo với nắng vàng và bờ cát dài luôn đem lại cho ta nhiều cảm xúc, nhưng có lẽ cái đáng quan tâm nhất là con người.

Luân chở tôi ra gare maritime (ga tàu biển) để lên tàu cho chuyến đi Vanuatu.
Tầu sẽ đi theo lộ trình Nouméa – Marré – Lifou – Ouvéa – Port Vila – Lakatoro – Santo – Port Vila – Nouméa. Tầu sẽ dừng ở mỗi chặng khoảng 4 đến 5 giờ để cho người lên xuống và cũng là để chuyển hàng. Đây là một chiếc tầu khá nhỏ, dài khoảng 70m, vừa chở hàng và cũng chở người. Nhưng thực ra, mục đích chính có lẽ là chở hàng. Ta có thể tưởng tượng nó như các xe vận tải bắc – nam những năm 2000 ở Việt Nam.

Ngay bên cạnh con tầu không mấy đẹp đẽ của bọn tôi là một con tầu lớn đến từ Anh quốc, một Tinanic thực sự. Nó đang dừng lại ở Nouméa để khách xuống thăm quan, chụp ảnh. Những bà đầm béo tốt, lụa là bước xuống, cười tươi và làm dáng trước ống kính. Họ muốn có những bức ảnh kỷ niệm sự có mặt của bản thân tại Nouméa. Nhưng sự thực thì hết sức tệ hại, họ chỉ được ngắm phần xấu nhất của Nouméa, đó là trung tâm thành phố – Centre Ville. Nói chung là tôi chưa hiểu được tại sao chính quyền lại để trung tâm lại xấu và bẩn đến như vậy, xấu và bẩn gần nhất Nouméa.
Tôi xuống xe và chào tạm biệt Luân. Tôi bước lại gare, từng người từng người nhìn. Tôi cũng nhìn họ và chỉ thế thôi. Hầu như tất cả là người da đen, tôi nghĩ rằng đó là dân đảo và có một số người giống người Vanuatu. Tôi gặp nhân viên bảo vệ và hỏi đã đến giờ kiểm tra để lên tàu chưa. Họ đáp chưa tới và tôi ngồi chờ.

Tôi gặp Petre người cộng hòa Séc. Petre khoảng hơn 30 tuổi, cậu không nói được tiếng pháp và tôi nói chuyện với Petre bằng tiếng anh. Hơi ấp úng nhưng cũng tạm được.
Cậu ta đang đi một chuyến du lịch dài trong nhiều tháng. Cậu đã qua Taihiti, lần này là Nouméa, Vanuatu, cậu định đi Fiji rồi vòng sang Nam Mỹ hoặc New-Zeland. Với Passport Séc của cậu thì mọi chuyện về đi lại trở nên dễ dàng hơn rất nhiều so với Passport Việt Nam của tôi.
Petre mặc quần ngố, áo phông, quấn khăn trên đầu và đeo balo cỡ lớn. Còn tôi mũ lưỡi trai, quần bò, áo phông, và khoác một balo thể thao loại vẫn dùng cho dân chơi thể thao, cùng với đệm và túi ngủ.
Đến giờ check in, tôi là người đầu tiên. Hai cô soát vé đã quen tôi hôm mua vé và nhận ra ngay. Tiket please! Một cô trêu, cô khá duyên và so với người bản địa ở Nouméa, như cô là đẹp, có lẽ cô mang trong mình ít nhất hai dòng máu của hai dân tộc khác nhau. Thủ tục nhanh chóng nhất có thể, Petre thì bị kiểm tra kỹ hơn. Sau đó hai thằng lại ngồi tán chuyện, chờ một lúc rồi lên tàu.

Còn hơn 1h nữa, tàu mới nhổ neo, một hành trình dài đang chờ chúng tôi. Biển và sức mạnh của biển sẽ xoa dịu những u uất trong tôi?
Tàu có khoảng hơn 100 chỗ ngồi, có 8 chiếc tivi cũ được treo ở những vị trí khác nhau để mọi người có thể xem. Radio đang bật nhạc của người Kanak, một vài người Vanuatu đang chơi đàn – chiếc đàn truyền thống mà họ vẫn thường chơi. Nó nhỏ hơn ghi ta, nhưng cơ chế phát âm tương tự. Đàn này có nhiều loại, tôi mới chỉ thấy có 3 loại là 4 dây đơn, 6 dây 3 cặp và 8 dây 4 cặp. Loại đàn này tạo âm thanh chói và nặng hơn ghita.
Dưới kia là những hành khác đi các đảo Maré, Lifou, Ouvéa đang cho các thùng hàng của mình vào các container. Người từ các đảo này về Nouméa để tìm kiếm công văn việc làm, để tìm kiếm hương sắc đô thị. Nhưng những công việc mà họ có thể kiếm được chỉ dừng lại ở những công việc lao động chân tay: quét dọn, khuân vác, bảo vệ, …
Họ nói ngôn ngữ riêng của họ, và ngoài ra, vì sống ở Nouméa nên họ phải nói tiếng pháp, tuy nhiên họ nói giọng không chuẩn, một thứ tiếng Pháp quê mùa và ít học. Có thể tưởng tượng họ như các dân tộc thiểu số của Việt Nam vậy.
Tôi nhìn qua cửa thấy Port de plaisance mờ mờ qua cánh của kính cáu bẩn. Qua màn hình tồi tệ này, Port de plaisance đẹp đẽ đầy nắng trở nên hẻo lánh, heo hút và không gợi chút cảm xúc, có chăng chỉ là nỗi buồn như nhìn một quán vắng bên đường.

Mọi người đã lên tàu, tuy tàu có hơn 100 chỗ ngồi nhưng tôi có thể nghe thấy 5 thứ ngôn ngữ khác nhau. Một bản nhạc khó nghe một cách tự nhiên.
Mỗi chuyến đi để lại những dấu ấn sâu sắc trong tôi, lần này hi vọng cũng thế. Tôi đã phải vất vả chờ visa để vào Vanuatu. Nhìn sang Petre mà tôi cũng thấy hơi ngậm ngùi.
Viết tới đây tôi cười và nghĩ tới Ngô Quang Kiệt với câu nói nổi tiếng của ông ta. Tôi thấy vất vả nhưng tôi vẫn nhận được thái độ ân cần của những người nhận hồ sơ của tôi. Từ nhân viên ở Strasbourg nhận hồ sơ xin vào Nouvelle – Calédonie của tôi (Nouvelle – Calédonie, tiếng anh là New – Caledonia, được người Việt gọi là Tân đảo hoặc Tân thế giới, Nouméa là thủ phủ của Nouvelle – Calédonie), đến nhân viên ở lãnh sự quán Vanuatu, và cả 3 cô bé bán vé ở Gare.
Có thể do tôi may mắn, nhưng đúng là thủ tục cho người mang passport Việt Nam phức tạp và gây stress.
Chuyến đi này, tôi mang theo bên mình biết bao kỷ niệm. Tôi vẫn giữ chiếc ví và tờ 1 đô la đó, tôi vẫn giữ lọ nước hoa anh Tú tặng.
Một toán da trắng lên tàu, một cô gái với viếc áo thun 30cm để lộ 1 nửa ngực, kèm theo chiếc quần cũng 30cm đang ngúng nguẩy bước. Một cậu da trắng khoảng 25 loắt choắt đang liếc nhìn lung tung.
Không khí trên tàu trở nên đậm đặc, mùi khói bụi, mùi người, mùi hoa quả, mùi bánh … tất cả nồng nặc, một bài tập thở khó.
Ngoài kia, port de plaisance vẫn heo hút ánh đèn đêm.

Ảnh của cảng và chiếc Titanic đến từ Anh

Dạo qua báo chí và chuyện Ngô Bảo Châu

Dạo qua báo chí và chuyện Ngô Bảo Châu

Càng đến gần thời điểm công bố những người sẽ đạt giải thưởng Fields trong giới toán học, báo chí Việt Nam càng dành nhiều bài viết và thông tin bên lề. Tất nhiên, Ngô Bảo Châu (xin viết tắt là NBC) là cái tên được xướng lên nhiều nhất, tên của anh, hình của anh tràn ngập các báo tiếng Việt, tràn ngập các diễn đàn. Cảm tưởng việc này còn sôi nổi hơn Đại hội Hội Nhà Văn Việt Nam vừa diễn ra, cũng chẳng kém gì các kỳ họp Quốc hội với những vấn đề nóng bỏng của Việt Nam. Nó như một quả bóng đang được bơm căng thật lực, mà không cần biết hậu quả ra sao. Ngô Bảo Châu phải trả lời các báo (vì họ muốn đưa tin mà) và anh đều trả lời rất điềm đạm, anh giữ được sự bình thản cần thiết, có chăng chỉ là sự lo lắng khi báo chí quá rùm beng chuyện này. Nhiều tờ báo viết như thể biết trước rằng anh sẽ được trao giải Fields Điều này anh đã tâm sự, trên blog cá nhân của mình, là khá nguy hiểm.

Việc ồn ào này rõ ràng là không có ở trên đất Pháp – nơi mà anh đã sống và làm việc 20 năm nay. Vậy thì ở Pháp họ đang bàn nhau chuyện gì trên mặt báo?

Tất nhiên trang chuyên ngành như http://smf.emath.fr/ thì có nhắc đến Đại hội Toán học Quốc tế ICM 2010 http://www.icm2010.org.in/

Còn các trang nhật báo khác?

Dạo qua các trang nổi tiếng như lepoint, obs, lemonde, parisien thì thấy họ không nhắc gì đến Đại hội Toán học Quốc tế đang diễn ra cả. Toán là một chuyên ngành như bao ngành khác, nếu nhắc thì họ cũng phải nhắc đến các đại hội Vật Lý, hóa, v…v… đây là điều không thể. Nếu có nhắc đến, thì chắc rằng họ sẽ đưa tin ai được trao giải Fields sắp tới. Có một điều đáng nói là nước Pháp có 4/20 đại diện (là người Pháp hoặc người nước ngoài làm việc tại Pháp)[*] sẽ đọc báo cáo toàn thể.

Tăng trưởng kinh tế của Pháp, qua các báo cáo của Ngân Hàng thế giới và Quỹ tiền tệ thế giới, tất nhiên là vấn đề quan trọng hàng đầu hiện nay. Tỷ lệ thất nghiệp tuy đã giảm chút ít nhưng kinh tế hồi phục chậm chạp.

Ngoài vấn đề cải cách hưu trí nóng bỏng từ vài tháng nay, người Pháp đang bàn luận đến vấn đề người nhập cư sau những bạo lực diễn ra vào tháng trước, và tình trạng tội phạm có nguồn gốc nhập cư ngày càng gia tăng. Việc này sẽ được đưa ra bàn thảo tại Quốc hội Pháp trong lần thảo luận sắp tới. Sẽ tước quốc tịch Pháp của tội phạm có nguồn gốc nhập cư? đã có một vài quốc gia ở Châu Âu thực hiện điều này. Chúng ta sẽ xem người Pháp sẽ làm gì. Cũng nên chú ý là theo báo cáo gần đây của Liên Hợp Quốc, họ chỉ trích sự phân biệt chủng tộc ở Pháp. Người Pháp không thừa nhận và nói: nếu thế thì tại sao lại có rất nhiều người muốn đến Pháp? Bạn nào muốn biết thực hư ra sao thì có lẽ phải sống ở Pháp mới cảm nhận được.

Vài ngày nay, người Pháp hân hoan bao nhiêu với thắng lợi của mình trong giải bơi lội Châu Âu thì lại tủi hổ bấy nhiêu khi các báo liên tục đăng các vụ việc liên quan đến đội tuyển bóng đá Pháp tại kỳ World Cup vừa rồi.

Những cuộc biểu tình đã trở thành biểu tượng của đất nước hình lục lăng này, những người (khoảng vài trăm) sống du mục biểu tình đòi quyền lợi. Họ nói Je suis français, je suis né en France (tôi là người Pháp, tôi sinh ở Pháp) … và đòi hỏi quyền lợi. Chính quyền đau đầu với chuyện này, những người này sống ở các xe tải trên những cánh đồng, công viên, và bất cứ nơi nào có thể. Không điện, không nước, không có bất kỳ sự bảo vệ nào và gây ra sự phàn nàn của dân chúng.

Các vấn đề quốc tế, tất nhiên người Pháp cũng bàn, họ nói về Israel, Irac nhưng thực ra điều quan trọng nhất vẫn là việc hiện diện quân đội Pháp ở Afganistan. Con số thương vong và hi sinh vẫn gia tăng.

———-

viet.rfi.fr và bbcvietnamese.com cũng không nhắc gì đến Ngô Bảo Châu. Họ sẽ đưa tin sau khi biết ai được trao giải Fields?

———-

Nếu NBC được trao giải, bên cạnh niềm vui và tự hào, anh sẽ nặng gánh hơn. Báo chí lại một phen sôi động. Âu cũng là điều dễ hiểu. Chỉ sợ một chữ quá thôi!

Mệt nên viết chút cho đỡ căng thẳng. Các bạn thích tán chuyện thì cứ tự nhiên.

Chú thích

[*]: 4 người đó là

− Artur Avila, sinh năm 1979, người Brazil, đang làm việc tại Pháp và đồng thời tại Brazil.

http://w3.impa.br/~avila/

− Jean-Michel Coron, sinh năm 1956, người Pháp, làm việc tại Paris 6 – Pháp.

http://www.ann.jussieu.fr/coron

− Ngô Bảo Châu, sinh năm 1972, đang làm việc tại USA.

http://www.math.u-psud.fr/~ngo/

Ngô Bảo Châu (nom de famille : Ngô) est né en 1972 à Hanoi au Viet-Nam. Il est marié, père de trois enfants. D’origine vietnamienne,il est devenu français par naturalisation au début de l’année 2010.
Tạm dịch là: Ngô Bảo Châu (họ: Ngô) sinh năm 1972 tại Hà Nội – Việt Nam. Anh đã lập gia đình và có 3 người con. Người gốc Việt, đã trở thành công dân Pháp từ đầu năm 2010.
(ý kiến cá nhân: mình nghĩ anh Châu mang 2 quốc tịch Việt Nam và Pháp)

− Claire Voisin, sinh năm 1962, người Pháp, làm việc tại Paris 6 – Pháp.

http://www.math.jussieu.fr/~voisin/

Chi tiết xem ở đây

http://smf.emath.fr/files/text_like_files/icm-l1v3l.pdf

http://www.icm2010.org.in/scientific-program/invited-speakers

Expressions

En rapport avec le corps humain

  • Avoir le bras long – avoir une grande puissance bàn tay dài
  • Passer le bague au doigt: déjà marié đeo nhẫn vào ngón tay = làm đám cưới
  • Se creuser la cervelle: trop réfléchit mais pas encore arrivé
  • Avoir un cheveu sur la langue: có tóc ở lưỡi, c-à-d qu’il parle mal
  • S’arracher les cheveux – il est déespéré
  • Ne pas arriver à la cheville de quelqu’un = trop petit/nul par rapport quelqu’un không bám gót được người ta
  • Avoir un coup de coeur – son coeur bat trop fort
  • Avoir les dents longues – il veut de plus en plus
  • Avoir bon dos – il a chargé des fausses d’une autre personne
  • A la sueur de son front – il a trop travaillé et il y a des sueur sur son front
  • Avoir les jambes coupées – il a réçu une mauvaise nouvelle tellement qu’il a tombé ses genoux
  • Avoir un mot sur le bout de la langue – il connait une chose malheureusement, pour l’instant; il peut pas le décrire, cette chose est en train d’être sur sa langue mais il ne peux pas lui sortir
  • Ne pas avoir sa langue dans sa poche – il parle rarement, soit il veut pas parler, soit il ne peut pas parler
  • Avoir quelque chose sous la main – il a quelque chose à côte de lui, il peut l’aider, prend soin de lui.
  • Avoir le nez creux – il sent bien, par exemple il peux sentir que le prix d’un immobilier va montrer et il l’a achété, après il va le vendre et gagner bcp d’argents.
  • Avoir le larme à l’oeil – Cette personne est triste et il semble qu’il va pleure bien tôt.
  • Se faire tirer des oreilles – (Véo tai) par exemple un prof n’est pas content parce que son étudiant a mal travaillé, il plaint.
  • N’avoir que le peau sur les os – da bọc xương
  • faire dé pieds et des mains – un petit fait tous ce qui possible pour être mangé.
  • Avoir un poil dans la main – être paresseux
  • Avoir la tête sur les épaules – être raisonbale
  • Avoir la grosse tête – il pense qu’il est trop bien, trop inteligent mais réellement il s’est trompé. Il est prétentieux
  • En avoir par-dessus la tête – Si vous donnez un article en maths à un écrivain/peintre, il vas le mettre immédiatement dans la poubelle
  • Ne pas avoir les yeux en face des trous – mal réveiller
  • Ne pas avoir froid aux yeux – n’a pas peur

Hôm nay dạo qua một vài bài trên vnexpress.net, thấy có một vài bài viết tốt hơn trước đây. Phong cách này giống với phong cách viết báo của bbcvietnamese và rfi. Tuy nhiên, mình thích rfi hơn bbc nhiều.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.